| Chất lượng- Thương hiệu và nhân lực |
|
Đây là một bài viết cũ năm 2007 của tôi. Trong bài viết có nhắc đến các chủ đề như chất lượng, thương hiệu và nhân lực mà các phương tiện thông tin đại chúng gần đây có hay nói đến khi đưa tin về các doanh nghiệp, từ đó người viết phân tích mối quan hệ giữa chúng và làm nổi lên cái gì ẩn đằng sau những sự kiện bề mặt đó. Bài này là những gì được tổng kết lại trên cơ sở kinh nghiệm của tôi và những gì tôi đọc được từ các tờ báo kinh tế trong nước gần đây, xin được gửi lời cám ơn trân trọng luật sư Nguyễn Ngọc Bích về ý tưởng “quản trị khoa học” và “quản trị thuận tiện” của ông mà tôi đã học được, trước hết là cho công việc thực tế của tôi, và sau là để viết bài này. Để bắt đầu bài viết này tôi xin nhắc lại ở đây những thông tin liên quan đến doanh nghiệp mà các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin trong một số năm trở lại đây. Cái đáng nói ở đây là các thông tin đó được đưa tin thành những “làn sóng” lớn, nghĩa là rộ lên trong một thời gian, sau đó thì bình thường, yên ả trở lại. “Làn sóng” lớn đầu tiên là phong trào ISO hóa, “làn sóng” lớn thứ hai là xây dựng thương hiệu và cuối cùng là “làn sóng” nhân lực. Bây giờ là lúc các doanh nghiệp nói nhiều nhất về nhân lực và vẫn đang nói về thương hiệu, còn ISO thì ít nhắc đến rồi. Đó đúng là các vấn đề của các doanh nghiệp hiện nay, tuy nhiên bài viết này muốn nhìn sâu hơn vào bên trong các vấn đề đó để thấy cái gì ẩn phía dưới, cái gì khiến cho doanh nghiệp ứng dụng ISO khó khăn, cái gì khiến cho nhân lực biến động, cái gì khiến cho doanh nghiệp khó có được nhân lực lành nghề, cái gì khiến cho mối quan tâm của doanh nghiệp cứ như một làn sóng vậy – chợt dâng cao lên rồi hạ xuống … Các làn sóng lớn – đây là nói về sóng thật ở biển cả, đặc biệt là sóng thần, thường chỉ là thể hiện trên bề mặt của những chuyển động ngầm từ tận sâu thẳm trong lòng biển cả, đứt gãy bề mặt Trái Đất chẳng hạn. Hệt như vậy, bài viết này cũng nhìn nhận về những “đứt gãy” như vậy ở các doanh nghiệp mà không mấy khi các phương tiện thông tin đại chúng nói đến. Bất cứ doanh nghiệp nào thì cũng chỉ giống nhau ở mục đích này mà thôi: sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ và làm thế nào để thị trường chấp nhận hàng hoá hay dịch vụ của mình. Để đạt mục đích ấy, đầu tiên các doanh nghiệp được khuyên (chút nữa chúng ta sẽ thảo luận xem những lời khuyên ấy từ đâu mà ra!) xây dựng hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001 chẳng hạn). Nhiều doanh nghiệp đã làm như vậy nhưng số doanh nghiệp thành công không nhiều, nhiều doanh nghiệp ứng dụng ISO mà không hề hiểu được triết lý hành động của ISO và cũng không có động lực thật sự để ứng dụng nó, không có được cơ cấu tổ chức thích hợp để ứng dụng ISO, hoặc nếu có cơ cấu thì lại không có cơ chế thực thi thích hợp. Và tất nhiên có thể kể ra đây rất nhiều nguyên nhân khác nữa như tập quán làm việc, thói quen làm việc chẳng hạn gây trở ngại cho việc ứng dụng ISO. Sau khi ứng dụng ISO một thời gian, nhiều doanh nghiệp đã bỏ bẵng ISO, vì thấy nó chẳng mang lại cái lợi ích gì cả, hay chẳng mang lại lợi ích xứng đáng với những gì doanh nghiệp đã đầu tư vào đó. Thật ra, ISO 9001 không phải là một chuẩn kém và triết lý hành động của nó đã được thực tế khẳng định, mọi việc chỉ ở chỗ ứng dụng tốt hay chưa mà thôi, doanh nghiệp có động lực để ứng dụng ISO hay không thôi. Ngoài ra, triết lý hành động của ISO hay của mọi chuẩn hệ thống quản lý chất lượng khác như SA 8000, HACCP và ngay cả CMMI là hoàn toàn tương tự nhau. Câu chuyện chất lượng sẽ dẫn dắt chúng ta đến đâu? Thông thường các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, máy móc, thiết bị hay gặp khó khăn về nhân lực trong các công việc liên quan đến cung cấp dịch vụ bao quanh sản phẩm, họ ít gặp khó khăn về nhân lực trong các công việc liên quan đến chính khâu sản xuất. Đấy là do công nghệ sản xuất trong các lĩnh vực đó đã trở nên hoàn thiện và ít đòi hỏi người sản xuất phải có các tri thức chuyên ngành phức tạp để vận hành công nghệ – công nghệ ít phụ thuộc con người. Tôi đã thảo luận, dù có thể chưa rõ ràng, về mối quan hệ giữa chất lượng, thương hiệu và nhân lực, hai yếu tố đầu lại quy về yếu tố sau. Có một sự thật trong các doanh nghiệp hiện nay là: cử người đi học với mong muốn khi học xong về làm việc họ sẽ đóng góp tốt hơn cho doanh nghiệp – nghĩa là các doanh nghiệp đang tìm cách cải thiện tri thức của nhân lực – nhưng không mấy doanh nghiệp nghĩ tới cải thiện môi trường để nhân lực làm việc, môi trường làm việc không phụ thuộc vào nhân lực đó mà phụ thuộc chủ yếu vào những người cử họ đi học. Đây là những gì mà các bài giảng trên lớp học và các phương tiện thông tin ít nhắc đến, nếu có nhắc đến thì cũng chỉ để cho biết vậy thôi – đó chính là nếp “đứt gãy” của các doanh nghiệp mà đầu bài này đã nói tới. Đến đây tôi sẽ phân tích sâu hơn về nếp “đứt gãy” này! Vậy quản trị cơ sở là gì và nó có tính chất gì? Theo tìm hiểu của tôi thì quản trị cơ sở có 2 loại chính sau: quản trị thuận tiện và quản trị khoa học. Quản trị khoa học còn phân ra thành mấy cấp nữa nhưng cái đó không quan trọng ở đây. Không có loại quản trị nào dở hoặc tốt hơn loại quản trị nào, cái chính là nó phù hợp với trình độ, quy mô, mục tiêu của doanh nghiệp tại mỗi thời kỳ khác nhau của chính doanh nghiệp ấy. Cách thức làm việc như trên mới tạo ra những người giỏi cho doanh nghiệp ngay từ bên trong doanh nghiệp, mới giữ được người mà doanh nghiệp “săn” về, mới có thể áp dụng những cách làm việc hiệu quả như làm việc nhóm chẳng hạn, nếu không, sẽ có ai nói “Làm việc nhóm hả? Về trường của cậu mà làm, bọn lý thuyết suông!”. Nhân lực cần có môi trường để trở nên hiệu quả và một môi trường hiệu quả thì có 5 tiêu chí ngược lại với 5 tiêu chí trên. Tiếp theo, tôi muốn nhận xét về các tri thức mà các khoá đào tạo ở nước ngoài, các trường kinh doanh tại Việt Nam đang giảng dạy! Hầu hết giáo trình của họ là giáo trình của các trường tại các nước phát triển như Mỹ, EU, ví dụ những gì được viết về thương hiệu hay nhân lực chẳng hạn. Thương hiệu, nhân lực là vấn đề đương đại của các doanh nghiệp tại các nước đó, nghĩa là trước khi giải quyết vấn đề này thì họ đã giải quyết xong vấn đề chất lượng. Các doanh nghiệp nước phát triển đẩy mạnh thương hiệu vì công nghệ sản xuất của họ đã ổn định rồi và có thể chuyển riêng cơ sở sản xuất sang một nước khác có chi phí rẻ hơn (offshoring) hoặc “thuê ngoài” (outsourcing) thực hiện. Sở dĩ họ chuyển cơ sở sản xuất và thuê ngoài rất hiệu quả vì hệ thống quản trị của họ có được tiêu chí thứ 5 đã nói ở trên (tất nhiên tiêu chí thứ 5 của quản trị khoa học!), sản xuất xong họ chỉ việc “dán” cái tên của họ lên sản phẩm là sản phẩm bán được rồi, họ bán với giá rẻ hơn chút đỉnh sản phẩm do chính họ sản xuất nhưng do chi phí sản xuất thấp hơn nhiều nên mặc dù giá bán thấp hơn họ vẫn lãi hơn. Cái mà trong công nghiệp phần mềm gọi là “gia công” (outsourcing) là đang diễn ra theo logic đó, thực ra bản chất của nó chính là thuê ngoài – thuê doanh nghiệp khác thực hiện một phần công việc trên chuỗi giá trị của một sản phẩm. Các doanh nghiệp nước phát triển có được hệ thống quản trị khoa học thì cũng giống như con tàu đã vững mạnh và có công suất máy lớn, mọi khó khăn bây giờ chỉ là làm sao đào tạo được đội ngũ thủy thủ lái con tàu đó, lái sao cho con tàu đi với vận tốc cao mà vẫn an toàn, ổn định, họ nhấn mạnh nhân lực là vì thế! Họ cần người lái tàu, người vận hành tàu! Tất nhiên họ không chỉ cần người vận hành tàu, họ còn cần cả người sáng tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ mới, xây dựng những thương hiệu mới, nhưng như thế lại càng cần tập trung vào nhân lực hơn. Các doanh nghiệp lớn tại các nước phát triển, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia là những thế lực truyền thông mạnh, vì vậy cách nhìn của họ vô tình trở thành cách nhìn của các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển như Việt Nam, họ nói thương hiệu và nhân lực thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng nghĩ mình đang gặp những vấn đề như vậy, cách nhìn nhận vấn đề như vậy sẽ che mờ đi những vấn đề thiết thân của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, tại các nước phát triển, có truyền thống gắn kết rất chặt chẽ giữa doanh nghiệp và trường đại học, vì vậy các vấn đề của doanh nghiệp cũng chính là các chủ đề nghiên cứu, đào tạo của các trường đại học, khi các doanh nghiệp Việt Nam cử người đi học, thì học viên sẽ được đào tạo các vấn đề không phải của chính các doanh nghiệp ấy – nhưng mặc dù vậy đi học là điều vô cùng cần thiết. Vấn đề thiết thân của các doanh nghiệp Việt Nam là xây dựng môi trường làm việc theo các tiêu chí của quản trị khoa học, môi trường này sẽ sản sinh ra nguồn nhân lực tốt và sản phẩm có chất lượng, thương hiệu cũng từ đó mà ra. |